Kỳ 2: 10 VẤN NẠN CHO QUÊ HƯƠNG

Kỳ 2: 10 VẤN NẠN CHO QUÊ HƯƠNG
Bài của Anderson Thai Quang

Tác giả là một trí thức Việt kiều Mỹ từng mang bạc triệu về Việt Nam đầu tư và… chào thua. Việt Báo trân trọng giới thiệu những “bài học nặng ký” mà nhà triệu phú 39 tuổi đã “mua được với giá rẻ.”

Trước khi về lại Mỹ, trong một bữa tiệc chia tay tất niên, một người bạn trẻ chưa bao giờ sống ở nước ngoài, nhờ tôi tóm lược những kinh nghiệm cá nhân, những nhận xét về xã hội này, cũng như những vấn nạn mà thế hệ sắp tới của Việt Nam phải đương đầu. Tôi nhận lời và xin bắt đầu bằng…

BÀI HỌC LỊCH SỬ

Năm 1945, đảng Cộng Sản cướp chánh quyền và bắt đầu một cuộc chiến tranh dành độc lập chống thực dân Pháp. Người Việt anh hùng, mưu mô và kiên nhẫn, với sự trợ giúp nhiệt tình của Trung Quốc, đã chiến thắng sau 9 năm gian khổ và 1 triệu người hy sinh. Sau đó, nhận lãnh “nghĩa vụ quốc tế” của Cộng Sản Đệ Tam, cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ bắt đầu và kết thúc vào năm 1975 với sự sụp đổ của Saigon. Sau 20 năm chinh chiến, thêm 2.2 triệu người đã hi sinh; và đảng Cộng Sản cũng như phần lớn dân Việt đã kiêu hãnh với chiến thắng và tự nhận làm “đỉnh cao cho trí tuệ của loài người”.

Thế nhưng một câu hỏi mà các nhà lãnh đạo của xứ ta không bao giờ trả lời thoả đáng được là, “tại sao các nước láng giềng như Singapore, An Độ, Mã Lai, Indonesia… cũng bị thực dân xâm chiếm mà họ lại dành được độc lập không cần phải chiến tranh?”. Vào năm 1945, Việt Nam có số thu nhập mỗi đầu người ngang hàng với Singapore, Hàn Quốc, Hồng Kông… vào năm 1975, ta tụt hậu và số thu nhập trên chỉ ngang hàng với Thái Lan, Indonesia. Sau 63 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng và sau 30 năm thanh bình xây dựng đất nước, vào năm 2008, Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) tính là Việt Nam sẽ chỉ bắt kịp mức sống hiện tại của Thái Lan trong 95 năm nữa và của Singapore trong 152 năm nữa. Tại sao các láng giềng của ta lại may mắn đến như vậy? Không phải chúng ta là những người khôn ngoan, dũng cảm và thông minh nhất khu vực sao?

Năm 1945, chánh phủ DeGaulle của Pháp đề nghị một giải pháp hoà bình với Việt Minh nằm trong Liên Hiệp Pháp. Đảng từ chối và khởi động một chánh sách “tiêu thổ kháng chiến”, có nghĩa là đốt phá hết nhà cửa và tài sản của dân. (Thiệt hai cho Pháp thì không rõ, nhưng ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống dân Việt thì rất khắc nghiệt). Thế lực ngoại bang nào đã bắt chánh phủ mình gây chiến? Năm 1960, chánh phủ Saigon (bị lên án là do Mỹ giựt dây) đề nghị một miền Nam trung lập và độc lập phi chủ nghĩa. Thế lực ngoại bang nào đã bắt chánh phủ miền Bắc phải bác bỏ và tiếp tục chiến tranh? Đây là những câu hỏi cho các sử gia, tôi không dám lạm bàn. Nhưng các câu hỏi tối thiểu này phải được đặt ra vì cái nghèo khó khổ cực hiện nay bất nguồn rất nhiều từ các quyết định của các cấp lãnh đạo cộng sản.

Nhìn qua tổng thể của lịch sử 60 năm qua là nhận ro cái trách nhiệm đã khiến Việt Nam trở thành một trò cười của nhân loại và một tủi nhục cho những công dân của xứ này khi ra nước ngoài.

1. VẤN NẠN CĂN BẢN: ĐẢNG CỘNG SẢN

Căn bản của chủ thuyết Mác Lê là tái phân chia tài sản để san bằng mọi bất công giàu nghèo của xã hội. Lý thuyết là thế, nhưng nhìn chung các xã hội theo Công Sản bao giờ cũng có một tầng lớp cai trị (gọi là đầy tớ nhân dân) với rất nhiều đặc quyền và lợi lộc hơn cả các vua chúa quan lại ngày xưa. Vài nước như Bắc Triều Tiên lại đi theo chế độ “cha truyền con nối”, hay Cuba “anh để lại cho em”, hay Trung Quốc (Mao trao quyền cho vợ bé, Giang Thanh).

Khi còn tranh đấu để cướp chánh quyền, họ luôn luôn nêu cao lòng yêu nước và chống chế độ phong kiến thực dân để thu hút sự tham gia của mọi tầng lớp nhân dân. Chỉ sau khi nắm được quyền lực, họ mới bắt đầu chánh sách “đấu tố địa chủ”, “tich thu tài sản”, “quốc hữu hoá ruộng đất”… thay vì từ xã hội phong kiến tiến lên tư bản và thành Cộng Sản như lý thuyết Mác Lê; họ thực tình quay ngược chiều, trở về xã hội phong kiến, với tất cả các đặc tính chuyên chế độc tài. Không những giai cấp lãnh đạo, từ trung ương đến xã huyện, vui hưởng quyền lực, con cái họ hàng cũng được chia xẻ bổng lộc như các triều đại vua chúa.

Trong một thế giới phẳng phiu của chủ nghĩa toàn cầu, chế độ phong kiến chứa đựng nhiều nghịch lý sẽ không sao giải quyết được bất cứ vấn đề nào của xã hội tân tiến. Lấy một cỗ xe ngựa chạy trên một xa lộ gia tốc thì không thể nào chạy kịp với trào lưu.

Đó là lý do chính tại sao Liên Bang Xô Viết và Đông Au, nguồn cội của Mác Lê, phải tan rã và đảng Cộng Sản bị chôn vùi. Với hệ thống công an tinh vi và một dân trí thấp kém hơn, đảng Cộng Sản Tàu, Việt, Bắc Triều Tiên và Cuba còn níu kéo được quyền lực. Nhưng ngày nào mà chế độ cộng sản phong kiến còn ngự trị ở những nơi này, ngày đó sẽ không thể có tiến bộ về chánh trị, kinh tế, xã hội hay dân trí. Ngày nào mà cơ cấu chánh trị còn bị đè nặng bởi một nhóm lãnh đạo lỗi thời, ngày đó Việt Nam không thể có tiến bộ hay sáng tạo để bắt kịp các láng giềng.

Tất cả những vấn nạn khác của Việt Nam đều có gốc rễ từ vấn nạn căn bản nói trên. Mọi cố gắng thay đổi, điều chỉnh đều có thể làm tốt hơn; nhưng không thể có hiệu năng đột phá nếu không giải quyết vấn đề cơ bản là sự độc quyền cai trị của Đảng Cộng Sản.

Tôi không nghĩ là xã hội và dân tộc Việt chỉ có 10 vấn nạn. Nhưng sắp xếp theo chủ quan, tôi thấy sau đây là 9 vấn đề cấp bách mà Việt Nam phải đối phó để còn một tương lai sáng sủa hơn cho thế hệ kế tiếp: tư cách và dân trí (character and collective knowledge); tham nhũng (corruption); bất công xã hội (social inequality); các công ty quốc doanh (state-owned enterprises); giáo dục (education); môi trường (environment); sức khoẻ cộng đồng (health care); mạng lưới hạ tầng (infrastructure); và vấn đề đô thị hoá (urbanization).

2. TƯ CÁCH VÀ DÂN TRÍ
(Không ai quên được sự thực; họ chỉ nói dối một cách thành thạo hơn)

Sau 63 năm dưới chế độ Cộng Sản và 30 năm trong chiến tranh Pháp-Mỹ, con người Việt Nam biến thể rất nhiều, so với thời Khổng Mạnh lúc xưa và những ảnh hưởng sau đó của văn minh Tây Phương. Phần thì bị bịt kín không thông tin liên lạc với thế giới bên ngoài, phần thì phải lo sinh tồn trong một cuộc chiến khốc liệt và trong tai mắt khắp nơi của bộ máy cảnh sát công an; tư cách của người Việt đã hoàn toàn thay đổi, khác hẳn với các dân tộc tự do khác. Vì nằm trong hệ thống Cộng Sản, họ xử thế rất giống với người Tàu hay người Nga hay người Bắc Triều Tiên.

Để tồn tại, bệnh giả dối bịp bợm là chỉ nam hàng đầu (dĩ nhiên, họ học hỏi rất nhiều ở tầng lớp lãnh đạo). Các đặc tính khác phát sinh từ chế độ chánh trị Cộng Sản gồm có bệnh hình thức (nói nhưng không làm), bệnh ích kỷ (bất cứ ích lợi gì cho ta và gia đình mà thôi), bệnh manh múng (làm đủ mọi cách để lách léo và tìm mối lợi), bệnh mặc cảm (vì biết mình yếu kém nên hay nổ bậy), bệnh quậy phá (cho đỡ những áp lực dồn nén từ một cuộc sống nghèo hèn), bệnh làm ẩu (thành công thì ta hưởng, thất bại thì thiên hạ chịu), bệnh ngắn hạn (không ai có tầm nhìn dài hạn vì cá nhân không có tương lai bảo đảm) và bệnh quan liêu (không lạ gì khi sống trong một xã hội phong kiến).

Về tư cách xấu tốt còn để lại từ truyền thống thì người Việt ta có bệnh sĩ diện (từ văn hoá Trung Quốc), bệnh ham chơi ăn nhậu (từ văn hoá Pháp), bệnh thiếu sáng tạo (do nền giáo dục khoa bảng không thực tế của Tàu và Pháp). Những đức tính tốt là tính ham học, lòng can đảm, liên hệ sâu đậm với gia đình, quê hương, sự tận tuỵ với công việc của cá nhân, sự chịu đựng và thích ứng với mọi hoàn cảnh, tinh thần cầu tiến và lòng kiên nhẫn vô bờ.

Dân trí (collective knowledge) là một yếu tố khác đã bị sự bưng bít che đậy của chế độ làm người dân trở thành mê muội với những kiến thức một chiều, lỗi thời và thua kém. Chỉ những năm gần đây, dù còn là một thiểu số không đáng kể, người Việt mới có cơ hội đi lại các quốc gia đã phát triển để thấy một cuộc sống hoàn toàn trái ngược với những tuyên truyền bịp bợm của bộ máy nhà nước. Vua Tần ngày xưa tuyên bố rằng “dân ngu thì dễ dạy”. Những người Cộng Sản bây giờ đã khôn ngoan áp dụng triệt để chánh sách này.

Nói tóm lại, nếu không có những tư cách xấu phát nguồn từ thể chế chánh trị, thì người Việt có đủ tư cách và dân trí để phấn đấu thành công trên mọi lãnh vực so với các quốc gia láng giềng. Bằng chứng hiển nhiên là khi ra khỏi Việt Nam, người Việt Hải ngoại đã đạt những thành quả rất đáng khâm phục và bắt kịp mọi cộng đồng thiểu số trên khắp thế giới. Ngân hàng thế giới cho là phải mất 152 năm, Việt Nam mới bắt kịp Singapore về mức thu nhập. Nhưng nếu chế độ Cộng Sản còn tồn tại, thì phải mất đến 300 năm, Việt Nam mới bắt kịp Singapore về tư cách con người.

Kỳ 1: ‘BÀI HỌC NẶNG KÝ’ TỪ VIỆT NAM
Kỳ III: 10 Vấn Nạn Cho Quê Hương – VN THAM NHŨNG 6 TỶ ĐÔ/ NĂM

Anderson Thai Quang

Nguồn: Việt báo

http://thangtien.de/index.php?option=com_content&task=view&id=2560&Itemid=300


ditmecodosaovang, ditmehochiminh, ditmenongducmanh, ditmenguyentandung, ditmenguyenminhtriet, dadaocongsan, latdocongsan, tieudietcongsan, hochiminhsucvat, sucvathochiminh, sucvatnongducmanh, sucvatnguyentandung, sucvatnguyenminhtriet, dadaovietcong, iavaomathochiminh, iavaomatnongducmanh, iavaomatnguyentandung, iavaomatnguyenminhtriet

2 thoughts on “Kỳ 2: 10 VẤN NẠN CHO QUÊ HƯƠNG

  1. Pingback: 10 Vấn Nạn Cho Quê Hương (Anderson Thai Quang) « Danchutudo’s Weblog

  2. Pingback: 10 Vấn Nạn Cho Quê Hương (Anderson Thai Quang) « Tudodanchu’s Weblog

Gửi phản hồi

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s