bịnh BỤT NHÀ KHÔNG THIÊNG

bịnh BỤT NHÀ KHÔNG THIÊNG

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

Sau ngày 30-4-1975, tôi bị giải ngũ không chứng chỉ. Xin nhớ cho là bị giải ngũ chứ không phải được giải ngũ. Mà đã gọi là giải ngũ không chứng chỉ thì chỉ có nước đi ăn mày sớm. Thế mới đau. Nhà tôi ở khu Tân Cảng ( New Port ) nằm trên xa lộ Biên Hòa, cửa ngõ vào Saigon. Bên cạnh là một quán cà phê giải khát. Mấy ngày đầu lúc chưa vào học trường Cải Tạo, chẳng biết làm gì cho hết buổi, tôi chỉ còn nước sang trụ tại quán, ngồi uống cà phê, hút thuốc lá vặt để giết thì giờ. Cũng có cái hay là tọa ở đây cũng không hẳn là vô ích, có thể nhìn được khối chuyện thiên hạ sư vui đáo để, và biết được cũng không ít việc hay vặt vãnh ở trên đời. Ở đây mọi chuyện thượng vàng hạ cám mặc dầu nhiều khi chẳng thèm nhìn nó cũng ập vào mắt, không muốn nghe nó cũng cứ chui tọt vào tai và nằm lỳ trong đó không chịu ra nữa. Thế mới phiền.

Một buổi sáng sớm đầu tháng Năm, tôi vừa đặt đít xuống ngồi vào cái bàn ở trong góc quán nhìn ra thì cũng có 3 tên bộ đội nhóc ùa vào kéo ghế ngồi. Tôi biết chúng từ căn cứ Quận Vận cũ bên kia đường của QLVNCH bỏ lại kéo qua. Bọn lính xâm lược rất khoái uống cà phê phin của miền Nam mà chúng gọi là cà phê cái-nồi-ngồi-trên-cái-cốc. Mỗi đứa kêu một phin và ngồi đợi. Vẫn lại những chuyện bốc phét cũ rích phun ra từ những cái “đít vịt” của bọn chính trị viên đơn vị, chúng đem ra tán nhảm với nhau để lên mặt với dân miền Nam. Chẳng hạn ở Thái Bình cũng có mỏ dầu, dân chúng ngoài đó cứ đem thùng ra các giếng dầu mà múc đem về thắp đèn thoải mái. Hoặc, ở ngoài Bắc nhà nào cũng có TiVi chạy đầy đường. Hoặc, trẻ con ngoài đó cà lem ăn không hết phải đem phơi khô để dành v.v. Trong có vài ba ngày trời tai tôi nghe những câu chuyện đại loại như thế có lẽ đến cả chục lần. Uống xong chầu cà phê chúng đứng dậy bỏ đi tỉnh bơ -dĩ nhiên là quên trả tiền- và để lại trên mặt bàn một tờ báo Nhân Dân. Chúng đã ra đến ngoài đường. Chị chủ quán thật thà lượm tờ báo rượt theo bọn lính, nói:

– Mấy chú bỏ quên tờ báo.

– Cho chị để gói hàng đấy. Báo toàn nói nhảm đọc cái đéo gì mà đọc (nguyên văn).

Chị chủ quán chưng hửng, cầm tờ báo trở lại để dùng vào việc gói đồ hay làm những việc gì khác nữa sau này với tờ báo tôi cũng chẳng biết. Cái thói quen ăn bửa uống chạy của bọn bộ đội trong khu vực lúc đó chẳng ai lạ gì. Kẻ thắng trận mà. Và còn cái nạn ăn cắp chó làm thịt trong xóm tôi ở thì ôi thôi xẩy ra hà rầm. Con chó berger Đức của tôi thả trong sân chỉ không đầy tuần lễ là bị mất tích rồi. Hiện tượng Saigon mất chó lan tràn đến độ bài hát Nối Vòng Tay Lớn của tên nhạc sĩ phản chiến Trịnh Công Sơn đã được nhái lại cùng khắp: Từ Bắc vô Nam tay cầm bó rau, tay kia cầm sợi giây để bắt con cầy …. Con nít Saigòn hễ trông thấy bọn bộ đội đi ngoài đường là ở trong nhà đóng cửa lại hát chõ ra để chọc chơi.

Lúc đó tôi ngạc nhiên không hiểu tại sao bọn cán binh CS lại dám cho rằng tờ báo của đảng của chúng lại viết nhảm nhí. Thời gian ở trong tù tôi thường được đọc các tờ báo của CS như tờ Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân, và Saigon Giải Phóng. Đọc mấy tờ báo này tôi mới nghiệm ra rằng bọn cán binh CS mà tôi gặp tại quán cà phê của người hàng xóm nói đúng. Báo chí CS chẳng có cái gì đáng đọc cả. Đói con mắt thì đọc chơi thôi, cho đỡ buồn. Tin tức thì nghèo nàn. Bình luận thì một chiều và nhạt như nước ốc. Đến bọn bộ đội mà còn chê thì làm sao những người lính miền Nam như chúng tôi đọc nổi. Ở miền Nam trước đó chỉ có tờ Tiền Tuyến là tờ báo “quốc doanh” nhưng tờ Tiền Tuyến cũng không đến nỗi quá nghèo nàn về nội dung và khô khan như các tờ báo của CS. Căn cứ từ câu trả lời của tên bộ đội và cách thức hắn chỉ cho chị chủ quán xử lý tờ báo mà hắn bỏ lại, tôi đã có thể rút ra được một hệ luận không sai là tờ báo đã chẳng ra “cái đéo” gì (không phải tiếng của tôi), thì người làm ra các tờ báo đó tất nhiên cũng chẳng là cái đếch gì cả. Bọn nhà báo CS cũng chỉ đáng dùng để gói đồ hay tệ hơn nữa, chùi đít mà thôi. Mối liên hệ giữa một tờ báo CS và người biên tập rõ ràng là một thứ liên hệ nhân quả: tel père tel fìls, hay telle marmite tel couvert (cha nào con nấy, hay nồi nào vung ấy). Chúa cũng đã dậy cây xấu không thể sinh ra trái tốt được kia mà. Kết luận như thế hẳn không sai logic nhưng lại đụng chạm đến nhiều người trong đó có ông Bùi Tín, cựu phó tổng biên tập của tờ báo Nhân Dân. Mà quả thật người viết cũng đang muốn nói đến ông ta đây.

Cách đây ít bữa tôi có rà qua một lượt mấy trang web quen thuộc, bắt gặp một bài viết trình bầy tóm tắt các ý tưởng ông nhà báo Bùi Tín trả lời báo chí nhân ngày 30-4 sắp tới. Chủ nhân của trang web giới thiệu ông Bùi Tín khá trịnh trọng và nêu bật các ý mà ông Bùi Tín muốn nói. Xưa nay, việc ông Bùi Tín bầy tỏ quan điểm thì nhiều lắm, nhưng lần này có khác, ngoài những điều ông tố khổ lũ CS trong nước, và lời cuối cùng như thường lệ, ông kêu gọi tuổi trẻ tập suy tư bằng cái đầu tỉnh táo của chính mình, ông đặc biệt nhấn mạnh một điểm quan trọng khi nói: Hôm nay tôi sẵn sàng nói to cho mọi người nghe rõ: đất nước Việt nam ta sau ngày 30-4-1975 không hề được giải phóng, cũng không hề được thống nhất. Tôi không chắc lắm, nhưng có lẽ đây là lần thứ nhất ông Bùi Tín mạnh miệng phủ nhận việc VGCS miền Bắc xâm lăng mà chúng vẫn rêu rao là giải phóng miền Nam. Câu tuyên bố này tôi nghĩ chắc chắn càng củng cố thêm khẳng định mới đây của nhà văn nhà báo Trần Phong Vũ trong nhóm Diễn Đàn Giáo Dân khuynh hướng Việt Tân cho rằng Bùi Tín đã hoàn toàn phản tỉnh. Tôi còn tin rằng có nhiều chính khứa chạy rông ở hải ngoại này cũng nghĩ như ông Trần Phong Vũ. Nhưng việc Bùi Tín có thật sự phản tỉnh hay không không thể chỉ dựa vào mấy bài viết nhăng viết cuội hoặc mấy câu tuyên bố ẫm ờ nửa chừng xuân của ông ta thôi là đủ, mà cần phải căn cứ trên suốt cái quá trình gọi là phản tỉnh của ông ta mà đánh giá mới được.

Hãy nghe lời ông Bùi Tín đi, tư duy bằng cái đầu tỉnh táo của mình đi. Không biết bà Dương Thu Hương có tư duy bằng cái đầu tỉnh táo của bà không, nhưng khi Dương Thu Hương mới đi được nửa đường vào miền Nam đã phải quị sụp xuống bên lề đường khóc rống lên mà rằng: bịp, bịp, một trò bịp bợm vĩ đại. Trong lúc đó theo như Bùi Tín viết, Tín đang vênh vang nạt nộ tên hàng tướng Dương Văn Minh tại dinh Độc Lập: Các anh còn gì nữa đâu mà đòi bàn giao! Xét về đủ mọi mặt: địa vị xã hội, căn bản đào tạo, phạm vi giao tiếp, kinh nghiệm trường đời v.v. thì phải nói Bùi Tín hơn hẳn Dương Thu Hương một bậc. Thế mà Dương Thu Hương chỉ chợt nhìn đã sáng mắt nhìn ra, trong khi Bùi Tín có mắt mà vẫn cứ như mù. Ngay từ ngày 30-4-75 không phải chỉ có Dương Thu Hương, mà hầu hết nhân dân miền Bắc đã biết suy nghĩ bằng cái đầu tỉnh táo của mình thì anh nhà báo Bùi Tín vẫn mải mê tư duy bằng cái đầu của người khác. Thật tội nghiệp. So với Dương Thu Hương và những người dân bình thường, Bùi Tín quả là anh chàng có cái đầu lừa: rất chậm hiểu.

Tháng 9-1990, Bùi Tín thoát sang Paris và xin tỵ nạn chính trị tại đây. Cũng không phải Bùi Tín đã nuôi dưỡng tinh thần phản tỉnh từ ngày đó. Ở Paris, Bùi Tín viết 2 cuốn sách chẳng mang một biểu hiện phản tỉnh nào cả, mà trái lại, sặc mùi lưu manh CS. Bùi Tín vẫn một mực bênh vực chính sách dã man vô nhân đạo của bọn chiếm đóng đối với người dân miền Nam như sau:

– chẳng phải trong số trên dưới một triệu gọi là ngụy quân, ngụy quyền thì số bị đi cải tạo dài hạn chỉ bao gồm trên mười vạn người, nghĩa là chừng 1/10 còn 9/10 đã được hưởng quyền công dân ngay từ đầu rồi là gì? chằng phải đã có có ông chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh tham gia Mặt trận tổ quốc thành phố Hồ Chí Minh, ông Nguyễn Xuân Oánh quyền thủ tướng cũ, được bầu làm đại biểu quốc hội rồi là gì? (Hoa Xuyên Tuyết, trang 88)

Bùi Tín cũng còn miệt thị QLVNCH tàn nhẫn lắm:

– Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa có những khó khăn ở ngay sau sự ra đời và phát triển của nó. Nó được chính quyền thực dân Pháp lập nên. Được người Pháp tổ chức và huấn luyện. Các sĩ quan cao cấp nhất hầu hết học ở trường quân sự của thực dân Pháp. Các tướng Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Văn Hinh, Trần Văn Đôn, Dương Văn Minh, Phạm Văn Phú, Đỗ Cao Trí, Ngô Quang Trưởng, Đỗ Mậu đều thế cả. Trước nhân dân cả nước Việt Nam, trước dư luận quốc tế quả thật là có nhiều khó khăn khi muốn dành cho quân đội ấy những chữ yêu nước, chính nghĩa. Khác hẳn với quân đội nhân dân Việt Nam. (Mây Mù Thế Kỷ, trang 32)

Và Bùi Tín còn nhắm mắt trốn chạy sự thực khi viết:

– ở trong nước, đồng bào ta kể cả những người từng sống trong chế độ Sài gòn cũ cũng không nuối tiếc và hy vọng gì về những người quốc gia ở nước ngoài vì họ không tác động có hiệu quả đối với đất nước. Trong khi phần đông thì họ chỉ cổ vũ hận thù, và một thời gian còn có không ít những người chủ trương dùng bạo lực. (Mây Mù Thế Kỷ, trang 54). Hoặc:

Về lá cờ Vàng 3 Sọc đỏ, Bùi Tín không bao giờ công nhận nó mà còn ác ý xuyên tạc:

– về lá cờ vàng ba sọc đỏ, nó được dựng lên dưới thời thực dân Pháp, dưới lá cờ ấy biết bao nhiêu người chết oan uổng. Mẹ tôi đã bị quân đội lính Pháp bắn chết. Hàng chục vạn người bị chết trong những cuộc càn quét của quân Pháp và lực lượng do Pháp xây dựng. Rồi sau này là những đợt tố cộng, diệt cộng thực chất là giết những người yêu nước ở miền Nam. (Mây Mù Thế Kỷ, trang 55)

Lại còn nói láo không ngượng miệng thế này:

– cho đến nay, ngay một số người Việt quốc gia đã nghĩ đến một lá cờ khác. Họ không công nhận lá cờ vàng ba sọc đỏ là quốc kỳ nữa. Với lý do nó tiêu biểu cho một thời kỳ, một chế độ tham những do thực dân ngoại quốc dựng lên. Một số người quốc gia còn nói với tôi là không thể chấp nhận cờ vàng ba sọc đỏ vì nó đại diện cho sự thối nát, cho sự thất trận, bất lực trong cuộc chiến đấu giữ miền Nam khỏi lọt vào tay Cộng sản đến nỗi họ phải bỏ nước ra đi …. …. Tôi thấy lá cờ đỏ sao vàng đã có một thời kỳ oanh liệt, đó là thời kỳ khởi nghĩa cách mạng tháng 8 năm 1945, thời kỳ kháng chiến chống Pháp cả trước đó còn tiêu biểu cho cuộc khởi nghĩa Nam Bộ năm 1940, nó có cả một quá trình lịch sử hào hùng, và đi cùng với nó là bài quốc ca có tựa đề là Tiếng Quân Ca. Nhiều người cho rằng cần phải giữ cờ đỏ sao vàng vì nó tiêu biểu cho một thời kỳ lịch sử được quốc hội của nướcViệt Nam chấp nhận, được công nhận ở Liên Hiệp Quốc. Là lá cờ chính thức làm lễ chào cờ khi đón các vị nguyên thủ quốc gia, còn thay mặt đất nước Việt Nam trên trường quốc tế. (Mây Mù Thế Kỷ, trang 56).

Với những luận liệu láo xược và đầy định kiến như trên thì ai dám bảo rằng Bùi Tín đã phản tỉnh, có chăng là bọn làm tay sai cho CS. Rõ ràng Bùi Tín xin tị nạn tại Pháp là một thứ ngụy tị nạn với một mission nào đó chứ chẳng phải là tị nạn thiệt. Theo dư luận đồn thổi thì Tín có sứ mệnh thổi tên tướng hèn Võ Nguyên Giáp lên làm minh chủ nhưng bất thành, vì tên tướng già nhát và hèn quá. Tuy nhiên cũng phải thừa nhận rằng hiện nay Bùi Tín đã bớt hung hăng con bọ xít đi một chút rồi. Điều này cũng dễ hiểu thôi. VGCS ngày nay đã hiện nguyên hình là bọn buôn dân bán nước nên Bùi Tín còn mặt mũi nào mà huênh hoang được nữa. Phải mất 33 năm trời từ ngày 30-4-1975, và 18 năm từ ngày đào tị sang Paris, Bùi Tín mới bớt cái thói lưu manh CS được phần nào. Cái tư tưởng cấp tiến nhất của Bùi Tín như vừa nói trên nhân dịp 30-4 năm nay là ông ta đã dám công khai phủ nhận việc “giải phóng” miền Nam của đảng VGCS. Tuy không nói trắng ra nhưng người ta hiểu ông muốn nói đó là một cuộc xâm lược. Nếu đã thừa nhận việc “giải phóng” miền Nam là một cuộc xâm lược thì hệ quả tất yếu phải đặt ra là kẻ xâm lược phải bị trừng trị và quốc gia bị xâm lăng phải được lấy lại chủ quyền. Nói không úp mở là đảng VGCS phạm tội ác xâm lược, hơn nữa còn là một đảng bán nước thì đảng đó không còn xứng đáng tồn tại. Nó phải bị dẹp bỏ. Và chế độ miền Nam cho dù là một nền dân chủ chưa hoàn thiện nhưng không đáng bị tiêu diệt, nó phải được phục hồi và tồn tại. Đó là công lý, cũng là công pháp. Thế nhưng tôi tin rằng dù Bùi Tín hay bất cứ một tên VGCS nào phản tỉnh hay không phản tỉnh cũng thế, chẳng bao giờ dám đi đến căn bản lý luận đó để giải quyết rốt ráo vấn đề của đất nước. Vì thế như trên chúng tôi đã nói, nếu chỉ căn cứ và những lời tuyên bố phét lác mà kết luận rằng Bùi Tín đã hoàn toàn phản tỉnh thì thật là ngây thơ và sai lầm hết sức. Bùi Tín thực tế chỉ là một tên phản tỉnh cuội.

Tại sao Bùi Tín lại phản tỉnh cuội, nghĩa là không dám công khai đòi hỏi giải tán đảng CS của y? Có 2 lý do: lý do quyền lợi và lý do chính tri. Thứ nhất, quyền lợi: Nếu đảng CS bị kết án và phải giải tán thì chính bản thân những kẻ lãnh đạo đảng tùy theo chức vụ như Bùi Tín cũng sẽ trở thành tội phạm: tội tham gia cướp nước và bán nước. Mấy chục năm trời theo đảng, bao nhiêu công lao dù là công lao hão huyền như đuổi Pháp, đánh Mỹ v.v. cũng sẽ bị mất sạch, mất trắng. Chẳng có tên CS nào chịu cam tâm như thế cả. Vì thế tôi dám lấy cái cái đầu tỉnh táo của mình bảo đảm rằng chẳng có tên VGCS nào dám đứng ra kêu gọi giải tán đảng của chúng. Thứ hai, cái lý do rất thầm kín đầy tính lưu manh CS này chỉ nằm sâu trong cái đầu có sạn của những tên CS mà không bao giờ chúng dám nói ra. Đó là vấn đề chính trị, nhưng chỉ cần tinh ý một tí thôi thì sẽ thấy ngay. Như chúng ta đã thấy, bọn CS phản tỉnh như Bùi Tín không bao giờ đòi giải tán đảng CS mà chỉ đòi hỏi phải đa nguyên đa đảng. Đa đảng tức là một chế độ mà trong đó pháp luật bảo đảm cho tất cả mọi đảng phái đều phải được sinh hoạt bình đẳng. Sự chuyển hóa một cách hòa bình từ độc tài độc đảng sang dân chủ đa đảng là một lý tưởng ai mà không mơ ước. Cái cốt lõi thầm kín trong mưu đồ của bọn CS phản tỉnh là khi đã có đa đảng rồi thì không ai có quyền cấm đảng CS hoạt động được. Lúc đó tên đảng có thể sẽ thay đổi nhưng đó không phải là vấn đề. Vấn đề quan trọng là cơ cấu tổ chức, nhân sự cùng là tiền bạc tài sản của đảng vẫn còn y nguyên. Có thể gọi đó là một đảng CS phi CS. Bọn cán bộ già nua hoặc đã chết, hoặc sẽ lui về hưởng già. Các tội ăn cướp, tội bán nước của chúng sẽ không còn bị truy cứu nữa. Trong tình hình mới, bọn CS phản tỉnh chắc chắn sẽ buông những đồng minh giai đoạn phe QG của chúng trong lúc còn tranh đấu. Chúng và đại đa số cán bộ không phản tỉnh dù sao cũng đã từng là đồng chí, hai bên sẽ lại bắt tay hợp tác với nhau trong cùng một tổ chức. Với khả năng tiền bạc dư thừa, phương tiện dồi dào, nhân sự đầy dẫy trong tay, bất cứ ai muốn thi đua tranh cử với chúng, chúng vẫn chẳng ngại. Nếu cần chúng có thể đẻ ra hàng chục, hàng trăm đảng ngoại vi để tranh với các đảng không CS để xem ai sẽ thắng ai. Rốt cuộc, quốc hội là chúng, tòa án là chúng, chính phủ cũng vẫn là chúng. Lương tâm thế giới, nhất là chính quyền Hoa Kỳ sẽ không còn bị cắn rứt nữa, vì VN đã có dân chủ rồi, nhưng lại là thứ dân chủ cuội, vì bon tư bản xanh tư bản đỏ vẫn tiếp tục ôm nhau nhẩy đầm trên lưng người dân nghèo VN khốn khổ. Thay đổi cái nỗi gì? Như Obama, ít ra cũng còn đổi được từ trắng ra đen. Đa nguyên đa đảng lúc đó mới thấy rõ chỉ là một chiêu bài giai đoạn của bọn CS phản tỉnh cuội, cũng giống như Mặt Trận Liên Việt hồi năm 1946 hay cái mồi Chính phủ Liên Hiệp 3 thành phần năm 1975 vậy. Nếu không biết sớm mà để đến bấy giờ mới biết thì đã quá muộn rồi. Sau khi đã chuẩn bị kỹ lưỡng, VGCS sẽ tự động cho đa đảng cho mà xem. Yên chí lớn đi, mấy nhà anh cuội chả nên tranh đấu làm gì cho tốn sức. Tôi đã có nhiều dịp nói chuyện trực tiếp với anh Nguyễn Chính Kết, một nhân vật lãnh đạo nòng cốt của khối 8406 ở hải ngoại. Anh xác nhận quan điểm của anh là trong lúc này cần phải bắt tay với bất cứ cá nhân hay đoàn thể nào miễn là họ chống cộng. Thì ra lại là học mót cái sách “mèo trắng mèo đen” của tên chệt Đặng Tiểu Bình. Chính trị không đơn giản đến thế chứ? Thật là nguy hiểm. Đó là một thứ phiêu lưu chính trị. Người ta ít ai chịu học những bài học của quá khứ.

Điều đáng tiếc là những bài viết, những câu tuyên bố bịp bợm của bọn phản tỉnh cuội như Bùi Tín lại được một số truyền thông, báo chí tị nạn đón nhận một cách nồng nhiệt. Hãy đọc kỹ đi, những bài viết tố cộng của Bùi Tín thường cũng chỉ là nhai lại những thông tin cũ rích ở trong nước. Nhiều tờ báo trong nước cũng dám chống cộng kiểu đó như Bùi Tín không thấy sao? Những nhận định phê bình về những nhân vật lãnh đạo đảng của Bùi Tín gay gắt lắm cũng không qua được mức gọi là “phải đạo” được đảng cho phép. Xét về trình độ văn hóa, trí thức, địa vị, chuyên môn nghề nghiệp, phạm vi giao tiếp, kinh nghiệm cùng là hiểu biết về CS, Bùi Tín còn thua xa rất nhiều sĩ quan QLVNCH hoặc nhiều nhà văn nhà báo của chúng ta ở hải ngoại này. Thế mà không hiểu sao những tài năng của chúng ta không được xem trọng, trong khi Bùi Tín lại được một số truyền thông tỵ nạn coi như một nhân vật chống cộng số một. Các bài biết của Bùi Tín được kể như khuôn vàng thước ngọc, định hướng cho công cuộc chống cộng ở hải ngoại này.

Cái não trạng “Bụt nhà không thiêng” của mấy bà già nhà quê này rõ ràng là một căn bịnh nguy hiểm. Ở trong nước, các cô gái chê lấy chồng nội mà chỉ khoái đàn ông Chệt, Hàn. Sự thể đã làm tan nát biết bao đời hoa, đổ vỡ biết bao gia đình. Mua hàng thì phải là hàng ngoại cơ, hàng nội người ta ngó bằng nửa con mắt. Toàn là cái bịnh bụt-nhà-không-thiêng cả. Nói vậy nhưng cũng không thể trách người dân trong nước được, vì đó là chủ trương buôn dân bán nước rất thâm độc của VGCS. Nhưng còn ở hải ngoại này, trải qua mấy chục năm rồi thế mà cái bịnh nguy hiểm này vẫn còn tồn tại trong giới truyền thông báo chí của ta thì thật là đáng buồn và đáng sợ. Những tư tưởng yêu nước thì không truyền bá, những bài viết vạch trần âm mưu và tội ác của VGCS lại không phổ biến, một số trong giới truyền thông tị nạn chỉ thích nhồi nhét vào đầu óc quần chúng luận điệu đầu hàng bịp bợm của bọn dân chủ cuội, phản tỉnh lèo thì thử hỏi tránh làm sao được cái cộng đồng tị nạn này không bị nhuộm đỏ có ngày. Chuyện thiệt đấy chứ chẳng chơi. Đừng coi thường kẻo rồi lại hối không kịp.

Duyên Lãng Hà Tiến Nhất

http://www.hon-viet.co.uk/DuyenLangHaTienNhat_BinhButNhaKhongThieng.htm

Gửi phản hồi

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s